IELTS Online
IELTS Reading Cambridge 15 test 2: Giải đề và phân tích chi tiết
Mục lục [Ẩn]
IELTS Reading Cambridge 15 Test 2 luôn là đề khó với nhiều thí sinh bởi lượng thông tin dài, bẫy đáp án tinh vi và yêu cầu kỹ năng đọc học thuật cao. Trong bài viết này, bạn sẽ được giải chi tiết Cambridge 15 Test 2 Reading, phân tích từng câu hỏi, chỉ ra bẫy thường gặp, cách định vị thông tin nhanh và chiến lược làm bài hiệu quả giúp bạn tối ưu thời gian và nâng band điểm Reading.
1. Đáp án Cambridge 15 Test 2
Dưới đây là bảng đáp án Cambridge 15 test 2 IELTS Reading:
|
11. dangerous |
21. insulating fat |
31. A |
|
12. communities |
22. carbon emissions |
32. emotion |
|
13. healthy |
23. B |
33. amusing |
|
14. F |
24. C |
34. boring |
|
15. A |
25. A |
35. anxiety |
|
16. D |
26. C |
36. stimulating |
|
17. A |
27. C |
37. NOT GIVEN |
|
18. genetic traits |
28. A |
38. TRUE |
|
19. heat loss |
29. B |
39. FALSE |
|
20. ears |
30. B |
40. FALSE |
2. Cambridge 15 Test 2 Passage 1: Could urban engineers learn from dance?
2.1. Đề thi Cambridge 15 Test 2 Passage 1
READING PASSAGE 1
You should spend about 20 minutes on Questions 1-13 which are based on Reading Passage 1 below
Could urban engineers learn from dance?
A. Could urban engineers learn from dance? The way we travel around cities has a major impact on whether they are sustainable. Transportation is estimated to account for 30% of energy consumption in most of the world’s most developed nations, so lowering the need for energy-using vehicles is essential for decreasing the environmental impact of mobility. But as more and more people move to cities, it is important to think about other kinds of sustainable travel too. The ways we travel affect our physical and mental health, our social lives, our access to work and culture, and the air we breathe. Engineers are tasked with changing how we travel round cities through urban design, but the engineering industry still works on the assumptions that led to the creation of the energy-consuming transport systems we have now: the emphasis placed solely on efficiency, speed, and quantitative data. We need radical changes, to make it healthier, more enjoyable, and less environmentally damaging to travel around cities.
(Các kỹ sư đô thị có thể học được gì từ khiêu vũ không? Cách chúng ta di chuyển trong thành phố có ảnh hưởng lớn đến tính bền vững của đô thị. Giao thông được ước tính chiếm khoảng ba mươi phần trăm mức tiêu thụ năng lượng ở hầu hết các quốc gia phát triển trên thế giới, vì vậy việc giảm nhu cầu sử dụng các phương tiện tiêu tốn năng lượng là yếu tố then chốt để giảm tác động môi trường của việc di chuyển. Tuy nhiên, khi ngày càng nhiều người chuyển đến sinh sống tại các thành phố, chúng ta cũng cần suy nghĩ về những hình thức di chuyển bền vững khác. Cách chúng ta đi lại ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tinh thần, đời sống xã hội, khả năng tiếp cận công việc và văn hóa, cũng như chất lượng không khí chúng ta hít thở. Các kỹ sư có nhiệm vụ thay đổi cách con người di chuyển trong thành phố thông qua thiết kế đô thị, nhưng ngành kỹ thuật vẫn đang dựa trên những giả định đã dẫn đến sự ra đời của các hệ thống giao thông tiêu tốn năng lượng hiện nay: đó là sự nhấn mạnh quá mức vào hiệu suất, tốc độ và dữ liệu định lượng. Chúng ta cần những thay đổi mang tính đột phá để việc di chuyển trong thành phố trở nên lành mạnh hơn, thú vị hơn và ít gây hại cho môi trường hơn.)
B. Dance might hold some of the answers. That is not to suggest everyone should dance their way to work, however healthy and happy it might make us, but rather that the techniques used by choreographers to experiment with and design movement in dance could provide engineers with tools to stimulate new ideas in city-making. Richard Sennett, an influential urbanist and sociologist who has transformed ideas about the way cities are made, argues that urban design has suffered from a separation between mind and body since the introduction of the architectural blueprint.
(Khiêu vũ có thể mang lại một số câu trả lời. Điều này không có nghĩa là mọi người nên nhảy múa trên đường đi làm, dù điều đó có thể khiến chúng ta khỏe mạnh và vui vẻ hơn, mà là các kỹ thuật mà các biên đạo múa sử dụng để thử nghiệm và thiết kế chuyển động có thể cung cấp cho các kỹ sư những công cụ kích thích tư duy mới trong việc xây dựng thành phố. Richard Sennett, một nhà nghiên cứu đô thị và xã hội học có ảnh hưởng lớn, người đã thay đổi cách nhìn về việc xây dựng thành phố, cho rằng thiết kế đô thị đã phải chịu hậu quả từ sự tách biệt giữa tâm trí và cơ thể kể từ khi bản vẽ kiến trúc được đưa vào sử dụng.)
C. Whereas medieval builders improvised and adapted construction through their intimate knowledge of materials and personal experience of the conditions on a site, building designs are now conceived and stored in media technologies that detach the designer from the physical and social realities they are creating. While the design practices created by these new technologies are essential for managing the technical complexity of the modern city, they have the drawback of simplifying reality in the process.
(Trong khi các thợ xây thời Trung Cổ ứng biến và điều chỉnh quá trình xây dựng dựa trên hiểu biết sâu sắc về vật liệu và kinh nghiệm cá nhân tại công trường, thì ngày nay các thiết kế công trình lại được hình thành và lưu trữ thông qua các công nghệ truyền thông, khiến nhà thiết kế tách rời khỏi những thực tế vật lý và xã hội mà họ đang tạo ra. Mặc dù các phương pháp thiết kế dựa trên công nghệ này là cần thiết để quản lý sự phức tạp kỹ thuật của thành phố hiện đại, chúng lại có nhược điểm là đơn giản hóa thực tế trong quá trình đó.)
D. To illustrate, Sennett discusses the Peachtree Center in Atlanta, USA, a development typical of the modernist approach to urban planning prevalent in the 1970s. Peachtree created a grid of streets and towers intended as a new pedestrian-friendly downtown for Atlanta. According to Sennett, this failed because its designers had invested too much faith in computer-aided design to tell them how it would operate. They failed to take into account that purpose-built street cafés could not operate in the hot sun without the protective awnings common in older buildings, and would need energy-consuming air conditioning instead, or that its giant car park would feel so unwelcoming that it would put people off getting out of their cars. What seems entirely predictable and controllable on screen has unexpected results when translated into reality.
(Để minh họa, Sennett bàn về Peachtree Center ở Atlanta, Hoa Kỳ, một khu phát triển tiêu biểu cho cách tiếp cận hiện đại trong quy hoạch đô thị phổ biến vào những năm một nghìn chín trăm bảy mươi. Peachtree tạo ra một mạng lưới đường phố và các tòa tháp với mục tiêu trở thành trung tâm thành phố mới thân thiện với người đi bộ của Atlanta. Theo Sennett, dự án này thất bại vì các nhà thiết kế đã đặt quá nhiều niềm tin vào thiết kế hỗ trợ bằng máy tính để dự đoán cách nó sẽ vận hành. Họ không tính đến việc các quán cà phê ven đường được xây dựng riêng biệt không thể hoạt động dưới cái nắng nóng nếu thiếu mái che như ở các công trình cũ, và sẽ cần đến điều hòa không khí tiêu tốn năng lượng, hay việc bãi đỗ xe khổng lồ của khu vực này lại tạo cảm giác lạnh lẽo, khiến mọi người không muốn rời khỏi xe của mình. Những gì trông có vẻ hoàn toàn có thể dự đoán và kiểm soát trên màn hình lại mang đến những kết quả bất ngờ khi được đưa vào thực tế.)
E. The same is true in transport engineering, which uses models to predict and shape the way people move through the city. Again, these models are necessary, but they are built on specific world views in which certain forms of efficiency and safety are considered and other experiences of the city ignored. Designs that seem logical in models appear counter-intuitive in the actual experience of their users. The guard rails that will be familiar to anyone who has attempted to cross a British road, for example, were an engineering solution to pedestrian safety based on models that prioritise the smooth flow of traffic. On wide major roads, they often guide pedestrians to specific crossing points and slow down their progress across the road by using staggered access points to divide the crossing into two – one for each carriageway. In doing so they make crossings feel longer, introducing psychological barriers greatly impacting those that are the least mobile, and encouraging others to make dangerous crossings to get around the guard rails. These barriers don’t just make it harder to cross the road: they divide communities and decrease opportunities for healthy transport. As a result, many are now being removed, causing disruption, cost, and waste.
(Điều tương tự cũng xảy ra trong kỹ thuật giao thông, lĩnh vực sử dụng các mô hình để dự đoán và định hình cách con người di chuyển trong thành phố. Một lần nữa, các mô hình này là cần thiết, nhưng chúng được xây dựng dựa trên những quan điểm nhất định về thế giới, trong đó một số dạng hiệu quả và an toàn được ưu tiên, còn những trải nghiệm khác của thành phố thì bị bỏ qua. Những thiết kế có vẻ hợp lý trong mô hình lại trở nên phản trực giác trong trải nghiệm thực tế của người sử dụng. Ví dụ, các rào chắn ven đường quen thuộc với bất kỳ ai từng cố gắng băng qua một con đường ở Anh được thiết kế như một giải pháp an toàn cho người đi bộ, dựa trên các mô hình ưu tiên dòng xe cộ lưu thông thông suốt. Trên các tuyến đường lớn, chúng thường dẫn người đi bộ đến những điểm sang đường cố định và làm chậm quá trình băng qua bằng cách chia lối sang đường thành hai giai đoạn – mỗi giai đoạn cho một chiều xe chạy. Điều này khiến việc sang đường có cảm giác dài hơn, tạo ra những rào cản tâm lý ảnh hưởng mạnh mẽ đến những người có khả năng di chuyển hạn chế, đồng thời khiến những người khác liều lĩnh băng qua đường để tránh các rào chắn. Những rào cản này không chỉ khiến việc qua đường trở nên khó khăn hơn mà còn chia cắt cộng đồng và làm giảm cơ hội sử dụng các hình thức di chuyển lành mạnh. Kết quả là hiện nay nhiều rào chắn đang bị tháo dỡ, gây ra sự gián đoạn, tốn kém và lãng phí.)
F. If their designers had had the tools to think with their bodies – like dancers – and imagine how these barriers would feel, there might have been a better solution. In order to bring about fundamental changes to the ways we use our cities, engineering will need to develop a richer understanding of why people move in certain ways, and how this movement affects them. Choreography may not seem an obvious choice for tackling this problem. Yet it shares with engineering the aim of designing patterns of movement within limitations of space. It is an art form developed almost entirely by trying out ideas with the body, and gaining instant feedback on how the results feel. Choreographers have deep understanding of the psychological, aesthetic, and physical implications of different ways of moving.
(Nếu những nhà thiết kế đó có các công cụ để suy nghĩ bằng cơ thể – giống như các vũ công – và tưởng tượng cảm giác mà những rào chắn này mang lại, có lẽ đã có những giải pháp tốt hơn. Để tạo ra những thay đổi căn bản trong cách chúng ta sử dụng thành phố, ngành kỹ thuật cần phát triển sự hiểu biết sâu sắc hơn về lý do con người di chuyển theo những cách nhất định và cách những chuyển động đó tác động đến họ. Biên đạo múa có thể không phải là lựa chọn hiển nhiên để giải quyết vấn đề này, nhưng nó có chung mục tiêu với kỹ thuật: thiết kế các mô hình chuyển động trong những giới hạn không gian nhất định. Đây là một loại hình nghệ thuật được phát triển gần như hoàn toàn thông qua việc thử nghiệm các ý tưởng bằng cơ thể và nhận phản hồi ngay lập tức về cảm giác của kết quả. Các biên đạo múa có sự hiểu biết sâu sắc về những tác động tâm lý, thẩm mỹ và thể chất của các cách di chuyển khác nhau.)
G. Observing the choreographer Wayne McGregor, cognitive scientist David Kirsh described how he thinks with the body. Kirsh argues that by using the body to simulate outcomes, McGregor is able to imagine solutions that would not be possible using purely abstract thought. This kind of physical knowledge is valued in many areas of expertise, but currently has no place in formal engineering design processes. A suggested method for transport engineers is to improvise design solutions and get instant feedback about how they would work from their own experience of them, or model designs at full scale in the way choreographers experiment with groups of dancers. Above all, perhaps, they might learn to design for emotional as well as functional effects.
(Khi quan sát biên đạo múa Wayne McGregor, nhà khoa học nhận thức David Kirsh đã mô tả cách ông suy nghĩ bằng cơ thể. Kirsh cho rằng bằng cách sử dụng cơ thể để mô phỏng kết quả, McGregor có thể hình dung ra những giải pháp mà tư duy trừu tượng thuần túy không thể đạt được. Loại kiến thức mang tính thể chất này được coi trọng trong nhiều lĩnh vực chuyên môn, nhưng hiện vẫn chưa có chỗ đứng trong các quy trình thiết kế kỹ thuật chính thức. Một phương pháp được đề xuất cho các kỹ sư giao thông là ứng biến các giải pháp thiết kế và nhận phản hồi tức thì thông qua chính trải nghiệm của họ, hoặc mô hình hóa thiết kế ở quy mô thực tế theo cách các biên đạo múa thử nghiệm với các nhóm vũ công. Quan trọng hơn hết, có lẽ họ cần học cách thiết kế không chỉ cho hiệu quả chức năng mà còn cho cả tác động cảm xúc.)
Questions 1-6
Reading Passage 1 has seven paragraphs, A-G.
Which paragraph contains the following information?
Write the correct letter, A-G, in boxes 1-6 on your answer sheet.
1 reference to an appealing way of using dance that the writer is not proposing
2 an example of a contrast between past and present approaches to building Shop for bestsellers
3 mention of an objective of both dance and engineering
4 reference to an unforeseen problem arising from ignoring the climate
5 why some measures intended to help people are being reversed
6 reference to how transport has an impact on human lives
Questions 7-13
Complete the summary below.
Choose ONE WORD ONLY from the passage for each answer.
Write your answers in boxes 7-13 on your answer sheet.
Guard rails
Guard rails were introduced on British roads to improve the 7…………………… of pedestrians, while ensuring that the movement of 8……………………. is not disrupted. Pedestrians are led to access points, and encouraged to cross one 9…………………….. at a time.
An unintended effect is to create psychological difficulties in crossing the road, particularly for less 10………………….. people. Another result is that some people cross the road in a 11……………………. way. The guard rails separate 12……………………., and make it more difficult to introduce forms of transport that are 13…………………….
>> Xem thêm:
2.2. Đáp án chi tiết Cambridge 15 Test 2 Passage 1
1. Đáp án: B
Vị trí thông tin: “That is not to suggest everyone should dance their way to work…”
Giải thích: Đoạn B nhắc đến một ý tưởng nghe có vẻ hấp dẫn là mọi người nhảy múa để đi làm, nhưng tác giả chủ động bác bỏ cách hiểu này. Điều tác giả muốn nói là học tư duy chuyển động của biên đạo múa, chứ không phải áp dụng khiêu vũ theo nghĩa đen. Vì vậy, đoạn B phù hợp nhất.
2. Đáp án: C
Vị trí thông tin:
“Whereas medieval builders improvised and adapted construction…”; “…building designs are now conceived and stored in media technologies…”
Giải thích: Đoạn C trực tiếp so sánh thợ xây thời Trung Cổ (ứng biến, dựa vào trải nghiệm thực tế) với thiết kế hiện đại (phụ thuộc vào công nghệ, bản vẽ, dữ liệu). Đây là ví dụ rõ ràng về sự đối lập giữa quá khứ và hiện tại.
3. Đáp án: F
Vị trí thông tin: “Yet it shares with engineering the aim of designing patterns of movement within limitations of space.”
Giải thích: Đoạn F chỉ ra rằng khiêu vũ và kỹ thuật có chung một mục tiêu: thiết kế các mô hình chuyển động trong không gian giới hạn. Đây là đoạn duy nhất nói rõ mục tiêu chung của hai lĩnh vực.
4. Đáp án: D
Vị trí thông tin: “…street cafés could not operate in the hot sun without the protective awnings…”
Giải thích: Đoạn D nêu ví dụ về Peachtree Center, nơi các nhà thiết kế không tính đến điều kiện khí hậu nóng, dẫn đến việc quán cà phê không thể hoạt động nếu không dùng điều hòa tiêu tốn năng lượng. Đây là hệ quả không lường trước do bỏ qua yếu tố khí hậu.
5. Đáp án: E
Vị trí thông tin: “As a result, many are now being removed, causing disruption, cost, and waste.”
Giải thích: Đoạn E giải thích vì sao rào chắn giao thông, vốn được tạo ra để bảo vệ người đi bộ, nay đang bị tháo dỡ: vì chúng gây chia cắt cộng đồng, cản trở di chuyển lành mạnh và tạo hành vi nguy hiểm.
6. Đáp án: A
Vị trí thông tin: “The ways we travel affect our physical and mental health, our social lives…”
Giải thích: Đoạn A nói trực tiếp về tác động của giao thông đến sức khỏe, đời sống xã hội, công việc và môi trường sống của con người, nên đáp án chắc chắn là A.
7. Đáp án: safety
Từ loại: danh từ
Vị trí thông tin: “an engineering solution to pedestrian safety”
Giải thích: Rào chắn được tạo ra để cải thiện an toàn cho người đi bộ.
8. Đáp án: traffic
Vị trí thông tin: “models that prioritise the smooth flow of traffic”
Giải thích: Mục tiêu của rào chắn là đảm bảo dòng xe cộ (traffic) không bị gián đoạn.
9. Đáp án: carriageway
Từ loại: danh từ số ít
Vị trí thông tin: “divide the crossing into two – one for each carriageway”
Giải thích: Người đi bộ được hướng dẫn sang đường theo từng làn xe (carriageway).
10. Đáp án: mobile
Từ loại: tính từ
Vị trí thông tin: “greatly impacting those that are the least mobile”
Giải thích: Những người ít khả năng di chuyển bị ảnh hưởng nặng nề nhất.
11. Đáp án: dangerous
Từ loại: tính từ
Vị trí thông tin: “encouraging others to make dangerous crossings”
Giải thích: Một số người chọn băng qua đường theo cách nguy hiểm để tránh rào chắn.
12. Đáp án: communities
Từ loại: danh từ
Vị trí thông tin: “they divide communities”
Giải thích: Rào chắn không chỉ ảnh hưởng giao thông mà còn chia cắt cộng đồng.
13. Đáp án: healthy
Từ loại: tính từ
Vị trí thông tin: “decrease opportunities for healthy transport”
Giải thích: Rào chắn làm giảm cơ hội phát triển các hình thức giao thông lành mạnh như đi bộ.
>> Xem thêm:
3. Cambridge 15 Test 2 Passage 2: Should we try to bring extinct species back to life?
3.1. Đề thi Cambridge 15 Test 2 Passage 2
READING PASSAGE 2
You should spend about 20 minutes on Questions 14-26 which are based on Reading Passage 2 below.
A. Should we try to bring extinct species back to life? The passenger pigeon was a legendary species. Flying in vast numbers across North America, with potentially many millions within a single flock, their migration was once one of nature’s great spectacles. Sadly, the passenger pigeon’s existence came to an end on 1 September 1914, when the last living specimen died at Cincinnati Zoo. Geneticist Ben Novak is lead researcher on an ambitious project which now aims to bring the bird back to life through a process known as ‘de-extinction’. The basic premise involves using cloning technology to turn the DNA of extinct animals into a fertilised embryo, which is carried by the nearest relative still in existence in this case, the abundant band-tailed pigeon-before being born as a living, breathing animal. Passenger pigeons are one of the pioneering species in this field, but they are far from the only ones on which this cutting-edge technology is being trialled.
(Chúng ta có nên cố gắng đưa các loài đã tuyệt chủng trở lại sự sống không? Bồ câu viễn khách (passenger pigeon) từng là một loài huyền thoại. Chúng bay thành những đàn khổng lồ khắp Bắc Mỹ, với số lượng có thể lên đến hàng triệu cá thể trong một đàn duy nhất; những cuộc di cư của chúng từng là một trong những cảnh tượng hùng vĩ nhất của thiên nhiên. Đáng buồn thay, sự tồn tại của loài này đã chấm dứt vào ngày một tháng chín năm một nghìn chín trăm mười bốn, khi cá thể cuối cùng qua đời tại Vườn thú Cincinnati. Nhà di truyền học Ben Novak hiện là trưởng nhóm nghiên cứu của một dự án đầy tham vọng nhằm đưa loài chim này trở lại sự sống thông qua một quy trình được gọi là “phi tuyệt chủng” (de-extinction). Nguyên lý cơ bản của quy trình này là sử dụng công nghệ nhân bản để biến ADN của các loài đã tuyệt chủng thành một phôi đã thụ tinh, sau đó phôi này được mang thai bởi loài họ hàng gần nhất vẫn còn tồn tại – trong trường hợp này là bồ câu đuôi vằn, vốn rất phổ biến – trước khi được sinh ra như một sinh vật sống, có thể hô hấp bình thường. Bồ câu viễn khách là một trong những loài tiên phong trong lĩnh vực này, nhưng chúng không phải là loài duy nhất mà công nghệ tiên tiến này đang được thử nghiệm.)
B. In Australia, the thylacine, more commonly known as the Tasmanian tiger, is another extinct creature which genetic scientists are striving to bring back to life. There is no carnivore now in Tasmania that fills the niche which thylacines once occupied,’ explains Michael Archer of the University of New South Wales. He points out that in the decades since the thylacine went extinct, there has been a spread in a ‘dangerously debilitating’ facial tumour syndrome which threatens the existence of the Tasmanian devils, the island’s other notorious resident. Thylacines would have prevented this spread because they would have killed significant numbers of Tasmanian devils. ‘If that contagious cancer had popped up previously, it would have burned out in whatever region it started. The return of thylacines to Tasmania could help to ensure that devils are never again subjected to risks of this kind.’
(Tại Úc, loài hổ Tasmania, hay còn gọi là thylacine, là một sinh vật tuyệt chủng khác mà các nhà khoa học di truyền đang nỗ lực đưa trở lại sự sống. “Hiện nay ở Tasmania không còn loài thú ăn thịt nào đảm nhiệm vai trò sinh thái mà thylacine từng đảm nhiệm,” Michael Archer thuộc Đại học New South Wales giải thích. Ông chỉ ra rằng trong nhiều thập kỷ kể từ khi thylacine tuyệt chủng, một hội chứng u ác tính trên khuôn mặt mang tính “suy nhược nguy hiểm” đã lan rộng, đe dọa sự tồn tại của loài quỷ Tasmania – cư dân khét tiếng khác của hòn đảo. Thylacine lẽ ra đã ngăn chặn sự lây lan này, bởi chúng sẽ tiêu diệt một số lượng đáng kể quỷ Tasmania. “Nếu căn bệnh ung thư truyền nhiễm đó xuất hiện trước đây, nó đã tự tàn lụi trong khu vực nơi nó khởi phát. Việc đưa thylacine trở lại Tasmania có thể giúp đảm bảo rằng quỷ Tasmania sẽ không bao giờ phải đối mặt với những rủi ro như vậy nữa.”)
C. If extinct species can be brought back to life, can humanity begin to correct the damage it has caused to the natural world over the past few millennia? ‘The idea of de-extinction is that we can reverse this process, bringing species that no longer exist back to life,’ says Beth Shapiro of University of California Santa Cruz’s Genomics Institute. ‘I don’t think that we can do this. There is no way to bring back something that is 100 per cent identical to a species that went extinct a long time ago.’ A more practical approach for long-extinct species is to take the DNA of existing species as a template, ready for the insertion of strands of extinct animal DNA to create something new; a hybrid, based on the living species, but which looks and/or acts like the animal which died out.
(Nếu các loài đã tuyệt chủng có thể được đưa trở lại sự sống, liệu nhân loại có thể bắt đầu sửa chữa những tổn hại mà mình đã gây ra cho thế giới tự nhiên trong suốt vài thiên niên kỷ qua hay không? “Ý tưởng của phi tuyệt chủng là chúng ta có thể đảo ngược quá trình này, đưa những loài không còn tồn tại trở lại sự sống,” Beth Shapiro thuộc Viện Genomics, Đại học California Santa Cruz cho biết. “Tôi không nghĩ rằng điều đó là khả thi. Không có cách nào để đưa trở lại một sinh vật giống một trăm phần trăm với một loài đã tuyệt chủng từ rất lâu.” Một cách tiếp cận thực tế hơn đối với các loài tuyệt chủng từ lâu là sử dụng ADN của các loài còn tồn tại làm khuôn mẫu, sau đó chèn các đoạn ADN của loài đã tuyệt chủng vào để tạo ra một sinh vật mới – một dạng lai, dựa trên loài đang sống nhưng có hình dáng và/hoặc hành vi giống loài đã biến mất.)
D. This complicated process and questionable outcome begs the question: what is the actual point of this technology? ‘For us, the goal has always been replacing the extinct species with a suitable replacement,’ explains Novak. ‘When it comes to breeding, band-tailed pigeons scatter and make maybe one or two nests per hectare, whereas passenger pigeons were very social and would make 10,000 or more nests in one hectare.’ Since the disappearance of this key species, ecosystems in the eastern US have suffered, as the lack of disturbance caused by thousands of passenger pigeons wrecking trees and branches means there has been minimal need for regrowth. This has left forests stagnant and therefore unwelcoming to the plants and animals which evolved to help regenerate the forest after a disturbance. According to Novak, a hybridised band-tailed pigeon, with the added nesting habits of a passenger pigeon, could, in theory, re-establish that forest disturbance, thereby creating a habitat necessary for a great many other native species to thrive.
(Quy trình phức tạp này và kết quả còn nhiều nghi vấn đặt ra câu hỏi: mục đích thực sự của công nghệ này là gì? “Đối với chúng tôi, mục tiêu luôn là thay thế loài đã tuyệt chủng bằng một loài thay thế phù hợp,” Novak giải thích. “Trong sinh sản, bồ câu đuôi vằn sống rải rác và chỉ tạo khoảng một hoặc hai tổ trên mỗi hecta, trong khi bồ câu viễn khách có tính xã hội cao và có thể tạo ra mười nghìn tổ hoặc hơn trong cùng một diện tích.” Kể từ khi loài chủ chốt này biến mất, các hệ sinh thái ở miền đông Hoa Kỳ đã chịu tổn hại, bởi việc thiếu đi sự xáo trộn do hàng nghìn con bồ câu viễn khách làm gãy cây, cành khiến nhu cầu tái sinh gần như không còn. Điều này khiến các khu rừng trở nên trì trệ và không còn hấp dẫn đối với các loài thực vật và động vật vốn tiến hóa để tái tạo rừng sau các đợt xáo trộn. Theo Novak, một loài bồ câu đuôi vằn lai, được bổ sung tập tính làm tổ của bồ câu viễn khách, về mặt lý thuyết có thể tái lập sự xáo trộn rừng này, từ đó tạo ra môi trường sống cần thiết cho nhiều loài bản địa khác phát triển mạnh.)
E. Another popular candidate for this technology is the woolly mammoth. George Church, professor at Harvard Medical School and leader of the Woolly Mammoth Revival Project, has been focusing on cold resistance, the main way in which the extinct woolly mammoth and its nearest living relative, the Asian elephant, differ. By pinpointing which genetic traits made it possible for mammoths to survive the icy climate of the tundra, the project’s goal is to return mammoths, or a mammoth-like species, to the area. ‘My highest priority would be preserving the endangered Asian elephant,’ says Church, ‘expanding their range to the huge ecosystem of the tundra. Necessary adaptations would include smaller ears, thicker hair, and extra insulating fat, all for the purpose of reducing heat loss in the tundra, and all traits found in the now extinct woolly mammoth.’ This repopulation of the tundra and boreal forests of Eurasia and North America with large mammals could also be a useful factor in reducing carbon emissions – elephants punch holes through snow and knock down trees, which encourages grass growth. This grass growth would reduce temperatures, and mitigate emissions from melting permafrost.
(Một ứng viên phổ biến khác cho công nghệ này là voi ma mút lông xoăn. George Church, giáo sư tại Trường Y Harvard và là người đứng đầu Dự án Phục hồi Voi Ma Mút, đang tập trung vào khả năng chịu lạnh – điểm khác biệt chính giữa voi ma mút đã tuyệt chủng và họ hàng gần nhất còn sống của nó, voi châu Á. Bằng cách xác định chính xác những đặc điểm di truyền giúp voi ma mút sống sót trong khí hậu băng giá của vùng lãnh nguyên, mục tiêu của dự án là đưa voi ma mút, hoặc một loài giống voi ma mút, trở lại khu vực này. “Ưu tiên cao nhất của tôi là bảo tồn loài voi châu Á đang bị đe dọa,” Church nói, “mở rộng phạm vi sinh sống của chúng đến hệ sinh thái rộng lớn của lãnh nguyên.” Những thích nghi cần thiết bao gồm tai nhỏ hơn, lông dày hơn và lớp mỡ cách nhiệt bổ sung – tất cả nhằm giảm sự mất nhiệt trong môi trường lãnh nguyên, và đều là những đặc điểm từng tồn tại ở voi ma mút lông xoăn. Việc tái cư trú của các loài động vật lớn ở lãnh nguyên và rừng phương bắc Á-Âu và Bắc Mỹ cũng có thể góp phần làm giảm lượng khí thải carbon: voi tạo lỗ trên tuyết và làm đổ cây, khuyến khích sự phát triển của thảm cỏ. Sự phát triển của cỏ sẽ làm giảm nhiệt độ và hạn chế lượng khí thải phát sinh từ băng vĩnh cửu tan chảy.)
F. While the prospect of bringing extinct animals back to life might capture imaginations, it is, of course, far easier to try to save an existing species which is merely threatened with extinction. ‘Many of the technologies that people have in mind when they think about de-extinction can be used as a form of “genetic rescue”,’ explains Shapiro. She prefers to focus the debate on how this emerging technology could be used to fully understand why various species went extinct in the first place, and therefore how we could use it to make genetic modifications which could prevent mass extinctions in the future. ‘I would also say there’s an incredible moral hazard to not do anything at all,’ she continues. ‘We know that what we are doing today is not enough, and we have to be willing to take some calculated and measured risks.’.
(Mặc dù viễn cảnh đưa các loài đã tuyệt chủng trở lại sự sống có thể khơi gợi trí tưởng tượng, rõ ràng việc cố gắng cứu một loài vẫn còn tồn tại nhưng đang bị đe dọa tuyệt chủng là điều dễ dàng hơn nhiều. “Nhiều công nghệ mà mọi người nghĩ đến khi nhắc đến phi tuyệt chủng thực chất có thể được sử dụng như một hình thức ‘cứu trợ di truyền’,” Shapiro giải thích. Bà muốn tập trung cuộc tranh luận vào cách công nghệ mới này có thể được sử dụng để hiểu đầy đủ lý do vì sao các loài lại tuyệt chủng ngay từ đầu, từ đó áp dụng các điều chỉnh di truyền nhằm ngăn chặn những đợt tuyệt chủng hàng loạt trong tương lai. “Tôi cũng cho rằng việc không làm gì cả tiềm ẩn một rủi ro đạo đức rất lớn,” bà nói tiếp. “Chúng ta biết rằng những gì mình đang làm hiện nay là chưa đủ, và chúng ta phải sẵn sàng chấp nhận một số rủi ro có tính toán và được kiểm soát.”)
Questions 14-17
Reading Passage 2 has six paragraphs, A-F. Shop for bestsellers
Which paragraph contains the following information?
Write the correct letter, A-F, in boxes 14-17 on your answer sheet.
NB You may use any letter more than once.
14 a reference to how further disappearance of multiple species could be avoided.
15 explanation of a way of reproducing an extinct animal using the DNA of only that species
16 reference to a habitat which has suffered following the extinction of a species
17 mention of the exact point at which a particular species became extinct
Questions 18-22
Complete the summary below.
Choose NO MORE THAN TWO WORDS from the passage for each answer.
Write your answers in boxes 18-22 on your answer sheet.
The woolly mammoth revival project
Professor George Church and his team are trying to identify the 18…………………… which enabled mammoths to live in the tundra. The findings could help preserve the mammoth’s close relative, the endangered Asian elephant.
According to Church, introducing Asian elephants to the tundra would involve certain physical adaptations to minimise 19…………………… To survive in the tundra, the species would need to have the mammoth-like features of thicker hair, 20………………….. of a reduced size and more 21……………………..
Repopulating the tundra with mammoths or Asian elephant/mammoth hybrids would also have an impact on the environment, which could help to reduce temperatures and decrease 22……………………
Questions 23-26
Look at the following statements (Questions 23-26) and the list of people below.
Match each statement with the correct person, A, B or C.
Write the correct letter, A, B or C, in boxes 23-26 on your answer sheet.
NB You may use any letter more than once.
23 Reintroducing an extinct species to its original habitat could improve the health of a particular species living there.
24 It is important to concentrate on the causes of an animal’s extinction.
25 A species brought back from extinction could have an important beneficial impact on the vegetation of its habitat.
26 Our current efforts at preserving biodiversity are insufficient.
List of People
-
Ben Novak
-
Michael Archer
-
Beth Shapiro
>> Xem thêm:
-
Giải đề IELTS Reading Cam 17 Test 1 Stadiums past present and future
-
Giải IELTS Reading Cam 17, Test 2, Passage 1: The dead sea scrolls
3.2. Đáp án chi tiết Cambridge 15 Test 2 Passage 2
14. Đáp án: F
Dịch câu hỏi: Nhắc đến cách có thể tránh việc nhiều loài khác tiếp tục biến mất trong tương lai.
Vị trí: Đoạn F: “...how this emerging technology could be used to fully understand why various species went extinct in the first place, and therefore how we could use it to make genetic modifications which could prevent mass extinctions in the future.”
Giải thích: Đoạn F nói rõ việc sử dụng công nghệ di truyền để hiểu nguyên nhân tuyệt chủng và từ đó ngăn chặn các đợt tuyệt chủng hàng loạt trong tương lai (“prevent mass extinctions”).
15. Đáp án: A
Dịch câu hỏi: Giải thích một phương pháp tái sinh một loài đã tuyệt chủng sử dụng DNA của riêng loài đó.
Vị trí: Đoạn A: “The basic premise involves using cloning technology to turn the DNA of extinct animals into a fertilised embryo…”
Giải thích: Đoạn A mô tả việc dùng DNA của loài đã tuyệt chủng để tạo phôi bằng công nghệ nhân bản.
16. Đáp án: D
Dịch câu hỏi: Nhắc đến một môi trường sống đã bị ảnh hưởng tiêu cực sau khi một loài tuyệt chủng.
Vị trí: Đoạn D: “Since the disappearance of this key species, ecosystems in the eastern US have suffered…”
Giải thích: Đoạn D nêu rõ hệ sinh thái miền Đông nước Mỹ bị tổn hại sau khi bồ câu viễn khách tuyệt chủng.
17. Đáp án: A
Dịch câu hỏi: Đề cập đến thời điểm chính xác khi một loài cụ thể bị tuyệt chủng.
Vị trí: Đoạn A: “...came to an end on 1 September 1914, when the last living specimen died…”
Giải thích: Đoạn A đưa ra ngày tháng cụ thể loài bồ câu viễn khách tuyệt chủng.
→ “exact point” = thời điểm chính xác → đáp án A.
18. Đáp án: genetic traits
Vị trí: Đoạn E: “By pinpointing which genetic traits made it possible for mammoths to survive…”
Giải thích: Cụm “genetic traits” xuất hiện nguyên văn trong bài và đúng ngữ pháp.
19. Đáp án: heat loss
Vị trí thông tin: “all for the purpose of reducing heat loss in the tundra”
Giải thích: Các đặc điểm thích nghi của voi ma mút nhằm giảm sự mất nhiệt trong môi trường lạnh. Vì vậy, đáp án đúng là “heat loss”.
20. Đáp án: ears
Vị trí thông tin: “smaller ears, thicker hair, and extra insulating fat...”
Giải thích: Cụm “ears of a reduced size” tương đương với “smaller ears” trong bài. Do đó, từ cần điền là “ears”.
21. Đáp án: insulating fat
Vị trí thông tin: “extra insulating fat”
Giải thích: Đoạn E liệt kê lớp mỡ cách nhiệt như một đặc điểm giúp giữ ấm. Đề giới hạn tối đa 2 từ → chọn “insulating fat”.
22. Đáp án: carbon emissions
Vị trí thông tin: “could also be a useful factor in reducing carbon emissions”
Giải thích: Việc tái sinh voi ma mút có thể giúp giảm phát thải carbon. Cụm từ xuất hiện trực tiếp trong bài, nên đáp án là “carbon emissions”.
23. Đáp án: B
Vị trí thông tin: “Thylacines would have prevented this spread because they would have killed significant numbers of Tasmanian devils.”
Giải thích: Michael Archer cho rằng việc đưa thylacine trở lại sẽ kiểm soát bệnh ung thư ở quỷ Tasmania, từ đó cải thiện sức khỏe của loài đang sống. Vì vậy, đáp án là B.
24. Đáp án: C
Vị trí thông tin: “...fully understand why various species went extinct in the first place...”
Giải thích: Beth Shapiro nhấn mạnh việc cần tập trung vào nguyên nhân tuyệt chủng để ngăn chặn trong tương lai. Do đó, đáp án đúng là C.
25. Đáp án: A
Vị trí thông tin: “...could re-establish that forest disturbance, thereby creating a habitat necessary for many other native species...”
Giải thích: Ben Novak cho rằng loài được tái sinh có thể kích thích tái sinh rừng, tác động tích cực đến thảm thực vật trong môi trường sống. Đáp án là A.
26. Đáp án: C
Vị trí thông tin: “We know that what we are doing today is not enough...”
Giải thích: Beth Shapiro nói rõ các nỗ lực hiện tại của con người chưa đủ để bảo tồn đa dạng sinh học. Câu chữ trùng khớp hoàn toàn với câu hỏi, nên đáp án là C.
>> Xem thêm: IELTS 6.0 có đi du học được không? Đi du học ở nước nào?
4. Cambridge 15 Test 2 Passage 3: Having a laugh
4.1. Đề thi Cambridge 15 Test 2 Passage 3
READING PASSAGE 3
You should spend about 20 minutes on Questions 27-40 which are based on Reading Passage 3 below. Shop for bestsellers
Having a laugh
The findings of psychological scientists reveal the importance of humour
Những phát hiện của các nhà khoa học tâm lý cho thấy tầm quan trọng của sự hài hước
A. Humans start developing a sense of humour as early as six weeks old, when babies begin to laugh and smile in response to stimuli. Laughter is universal across all human cultures and even exists in some form in rats, chimps, and bonobos. Like other human emotions and expressions, laughter and humour provide psychological scientists with rich resources for studying human psychology, ranging from the development of language to the neuroscience of social perception.
(Con người bắt đầu hình thành cảm nhận về sự hài hước ngay từ khi mới khoảng sáu tuần tuổi, khi trẻ sơ sinh bắt đầu cười và mỉm cười để phản ứng với các kích thích. Tiếng cười mang tính phổ quát ở tất cả các nền văn hóa của loài người và thậm chí còn tồn tại ở một số loài động vật như chuột, tinh tinh và khỉ bonobo. Giống như các cảm xúc và biểu hiện khác của con người, tiếng cười và sự hài hước cung cấp cho các nhà khoa học tâm lý nguồn tư liệu phong phú để nghiên cứu tâm lý con người, từ sự phát triển ngôn ngữ cho đến khoa học thần kinh về nhận thức xã hội.)
B. Theories focusing on the evolution of laughter point to it as an important adaptation for social communication. Take, for example, the recorded laughter in TV comedy shows. Back in 1950, US sound engineer Charley Douglass hated dealing with the unpredictable laughter of live audiences, so started recording his own ‘laugh tracks’. These were intended to help people at home feel like they were in a social situation, such as a crowded theatre. Douglass even recorded various types of laughter, as well as mixtures of laughter from men, women, and children. In doing so, he picked up on a quality of laughter that is now interesting researchers: a simple ‘haha’ communicates a remarkable amount of socially relevant information.
(Các học thuyết tập trung vào sự tiến hóa của tiếng cười coi đây là một sự thích nghi quan trọng trong giao tiếp xã hội. Lấy ví dụ tiếng cười được ghi sẵn trong các chương trình hài trên truyền hình. Vào năm một nghìn chín trăm năm mươi, kỹ sư âm thanh người Mỹ Charley Douglass cảm thấy rất phiền phức khi phải xử lý tiếng cười khó đoán của khán giả trực tiếp, nên đã bắt đầu thu âm các “đoạn cười nền” của riêng mình. Những đoạn cười này nhằm giúp người xem tại nhà có cảm giác như đang ở trong một tình huống xã hội, chẳng hạn như trong một nhà hát đông người. Douglass thậm chí còn ghi lại nhiều kiểu cười khác nhau, cũng như sự pha trộn tiếng cười của nam, nữ và trẻ em. Qua đó, ông đã nhận ra một đặc điểm của tiếng cười mà hiện nay thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu: một tiếng “ha ha” đơn giản cũng có thể truyền tải lượng thông tin xã hội đáng kể.)
C. In one study conducted in 2016, samples of laughter from pairs of English-speaking students were recorded at the University of California, Santa Cruz. A team made up of more than 30 psychological scientists, anthropologists, and biologists then played these recordings to listeners from 24 diverse societies, from indigenous tribes in New Guinea to city-dwellers in India and Europe. Participants were asked whether they thought the people laughing were friends or strangers. On average, the results were remarkably consistent: worldwide, people’s guesses were correct approximately 60% of the time.
(Trong một nghiên cứu được thực hiện vào năm hai nghìn mười sáu, các mẫu tiếng cười từ các cặp sinh viên nói tiếng Anh đã được ghi lại tại Đại học California, Santa Cruz. Sau đó, một nhóm gồm hơn ba mươi nhà khoa học tâm lý, nhà nhân học và nhà sinh học đã phát các bản ghi này cho người nghe đến từ hai mươi bốn xã hội khác nhau, từ các bộ lạc bản địa ở New Guinea cho đến cư dân thành thị ở Ấn Độ và châu Âu. Những người tham gia được hỏi liệu họ nghĩ những người đang cười là bạn bè hay người xa lạ. Trung bình, kết quả cho thấy sự nhất quán đáng kinh ngạc: trên toàn thế giới, dự đoán của mọi người đúng khoảng sáu mươi phần trăm số lần.)
D. Researchers have also found that different types of laughter serve as codes to complex human social hierarchies. A team led by Christopher Oveis from the University of California, San Diego, found that high-status individuals had different laughs from low-status individuals, and that strangers’ judgements of an individual’s social status were influenced by the dominant or submissive quality of their laughter. In their study, 48 male college students were randomly assigned to groups of four, with each group composed of two low-status members, who had just joined their college fraternity group, and two high-status members, older students who had been active in the fraternity for at least two years. Laughter was recorded as each student took a turn at being teased by the others, involving the use of mildly insulting nicknames. Analysis revealed that, as expected, high-status individuals produced more dominant laughs and fewer submissive laughs relative to the low-status individuals. Meanwhile, low-status individuals were more likely to change their laughter based on their position of power; that is, the newcomers produced more dominant laughs when they were in the powerful’ role of teasers. Dominant laughter was higher in pitch, louder, and more variable in tone than submissive laughter.
(Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện rằng những kiểu cười khác nhau đóng vai trò như các “mật mã” phản ánh hệ thống thứ bậc xã hội phức tạp của con người. Một nhóm nghiên cứu do Christopher Oveis thuộc Đại học California, San Diego dẫn đầu đã phát hiện rằng những cá nhân có địa vị xã hội cao có tiếng cười khác với những người có địa vị thấp, và rằng đánh giá của người xa lạ về địa vị xã hội của một người bị ảnh hưởng bởi tính áp đảo hay phục tùng trong tiếng cười của họ. Trong nghiên cứu này, bốn mươi tám nam sinh viên đại học được chia ngẫu nhiên thành các nhóm bốn người, mỗi nhóm gồm hai thành viên có địa vị thấp – những người vừa mới gia nhập hội sinh viên – và hai thành viên có địa vị cao là các sinh viên lớn tuổi đã hoạt động trong hội ít nhất hai năm. Tiếng cười được ghi lại khi từng sinh viên lần lượt trở thành đối tượng bị trêu chọc bởi những người khác, thông qua các biệt danh mang tính xúc phạm nhẹ. Phân tích cho thấy, đúng như dự đoán, những người có địa vị cao tạo ra nhiều tiếng cười mang tính áp đảo hơn và ít tiếng cười phục tùng hơn so với những người có địa vị thấp. Trong khi đó, những người có địa vị thấp có xu hướng thay đổi tiếng cười của mình nhiều hơn tùy theo vị thế quyền lực; cụ thể là những người mới gia nhập tạo ra tiếng cười áp đảo hơn khi họ đóng vai trò “người trêu chọc”. Tiếng cười áp đảo có cao độ cao hơn, âm lượng lớn hơn và biến đổi giọng điệu nhiều hơn so với tiếng cười phục tùng.)
E. A random group of volunteers then listened to an equal number of dominant and submissive laughs from both the high- and low-status individuals, and were asked to estimate the social status of the laugher. In line with predictions, laughers producing dominant laughs were perceived to be significantly higher in status than laughers producing submissive laughs. “This was particularly true for low-status individuals, who were rated as significantly higher in status when displaying a dominant versus submissive laugh,’ Oveis and colleagues note. “Thus, by strategically displaying more dominant laughter when the context allows, low-status individuals may achieve higher status in the eyes of others.’ However, high-status individuals were rated as high-status whether they produced their natural dominant laugh or tried to do a submissive one.
(Sau đó, một nhóm tình nguyện viên ngẫu nhiên đã nghe số lượng bằng nhau các tiếng cười áp đảo và phục tùng từ cả những cá nhân có địa vị cao lẫn thấp, và được yêu cầu ước đoán địa vị xã hội của người đang cười. Phù hợp với dự đoán, những người tạo ra tiếng cười áp đảo được đánh giá là có địa vị xã hội cao hơn đáng kể so với những người tạo ra tiếng cười phục tùng. “Điều này đặc biệt đúng với những cá nhân có địa vị thấp, những người được đánh giá cao hơn rõ rệt khi thể hiện tiếng cười áp đảo thay vì phục tùng,” Oveis và các cộng sự nhận xét. “Do đó, bằng cách chủ động thể hiện tiếng cười áp đảo khi bối cảnh cho phép, những người có địa vị thấp có thể đạt được vị thế cao hơn trong mắt người khác.” Tuy nhiên, những cá nhân có địa vị cao vẫn được đánh giá là có địa vị cao dù họ thể hiện tiếng cười áp đảo tự nhiên hay cố tình tạo ra tiếng cười phục tùng.)
F. Another study, conducted by David Cheng and Lu Wang of Australian National University, was based on the hypothesis that humour might provide a respite from tedious situations in the workplace. This ‘mental break’ might facilitate the replenishment of mental resources. To test this theory, the researchers recruited 74 business students, ostensibly for an experiment on perception. First, the students performed a tedious task in which they had to cross out every instance of the letter ‘e’ over two pages of text. The students then were randomly assigned to watch a video clip eliciting either humour, contentment, or neutral feelings. Some watched a clip of the BBC comedy Mr. Bean, others a relaxing scene with dolphins swimming in the ocean, and others a factual video about the management profession.
(Một nghiên cứu khác do David Cheng và Lu Wang thuộc Đại học Quốc gia Úc thực hiện dựa trên giả thuyết rằng sự hài hước có thể mang lại một khoảng nghỉ tinh thần trong những tình huống làm việc nhàm chán. Khoảng “nghỉ ngơi tâm lý” này có thể giúp tái tạo nguồn lực tinh thần. Để kiểm nghiệm giả thuyết này, các nhà nghiên cứu đã tuyển chọn bảy mươi bốn sinh viên ngành kinh doanh, với lý do bề ngoài là cho một thí nghiệm về nhận thức. Trước tiên, các sinh viên phải thực hiện một nhiệm vụ đơn điệu, trong đó họ phải gạch bỏ mọi chữ cái “e” xuất hiện trong hai trang văn bản. Sau đó, họ được chia ngẫu nhiên để xem một đoạn video gợi ra cảm xúc hài hước, dễ chịu hoặc trung tính. Một số xem trích đoạn phim hài Mr. Bean của BBC, một số khác xem cảnh thư giãn với cá heo bơi trong đại dương, và những người còn lại xem một video mang tính thông tin về nghề quản lý.)
G. The students then completed a task requiring persistence in which they were asked to guess the potential performance of employees based on provided profiles, and were told that making 10 correct assessments in a row would lead to a win. However, the software was programmed such that it was nearly impossible to achieve 10 consecutive correct answers. Participants were allowed to quit the task at any point. Students who had watched the Mr. Bean video ended up spending significantly more time working on the task, making twice as many predictions as the other two groups.
(Tiếp theo, các sinh viên thực hiện một nhiệm vụ đòi hỏi sự kiên trì, trong đó họ được yêu cầu dự đoán hiệu suất tiềm năng của nhân viên dựa trên các hồ sơ được cung cấp, và được thông báo rằng việc đưa ra mười đánh giá đúng liên tiếp sẽ dẫn đến chiến thắng. Tuy nhiên, phần mềm được lập trình sao cho việc đạt được mười câu trả lời đúng liên tiếp gần như là không thể. Người tham gia có thể dừng nhiệm vụ bất cứ lúc nào. Những sinh viên đã xem video Mr. Bean cuối cùng dành nhiều thời gian hơn đáng kể cho nhiệm vụ và đưa ra số lượng dự đoán gấp đôi so với hai nhóm còn lại.)
H. Cheng and Wang then replicated these results in a second study, during which they had participants complete long multiplication questions by hand. Again, participants who watched the humorous video spent significantly more time working on this tedious task and completed more questions correctly than did the students in either of the other groups.
(Cheng và Wang sau đó đã lặp lại kết quả này trong một nghiên cứu thứ hai, trong đó họ yêu cầu người tham gia giải các phép nhân dài bằng tay. Một lần nữa, những người xem video hài hước dành nhiều thời gian hơn đáng kể cho nhiệm vụ nhàm chán này và hoàn thành nhiều câu hỏi đúng hơn so với sinh viên ở hai nhóm còn lại.)
I. ‘Although humour has been found to help relieve stress and facilitate social relationships, the traditional view of task performance implies that individuals should avoid things such as humour that may distract them from the accomplishment of task goals,’ Cheng and Wang conclude. We suggest that humour is not only enjoyable but more importantly, energising.’
(“Dù sự hài hước đã được chứng minh là giúp giảm căng thẳng và thúc đẩy các mối quan hệ xã hội, quan điểm truyền thống về hiệu suất làm việc cho rằng con người nên tránh những yếu tố như hài hước vì chúng có thể khiến họ sao nhãng mục tiêu công việc,” Cheng và Wang kết luận. “Chúng tôi cho rằng sự hài hước không chỉ mang lại niềm vui mà quan trọng hơn, nó còn tạo ra năng lượng.”)
Questions 27-31
Choose the correct letter, A, B, C or D.
Write the correct letter in boxes 27-31 on your answer sheet.
27 When referring to laughter in the first paragraphs, the writer emphasises
-
its impact on language.
-
its function in human culture.
-
its value to scientific research.
-
its universality in animal societies.
28 What does the writer suggest about Charley Douglass?
-
He understood the importance of enjoying humour in a group setting.
-
He believed that TV viewers at home needed to be told when to laugh.
-
He wanted his shows to appeal to audiences across the social spectrum.
-
He preferred shows where audiences were present in the recording studio.
29 What makes the Santa Cruz study particularly significant?
-
the various different types of laughter that were studied
-
the similar results produced by a wide range of cultures
-
the number of different academic disciplines involved
-
the many kinds of people whose laughter was recorded
30 Which of the following happened in the San Diego study?
-
Some participants became very upset.
-
Participants exchanged roles.
-
Participants who had not met before became friends.
-
Some participants were unable to laugh.
31 In the fifth paragraph, what did the results of the San Diego study suggest?
-
It is clear whether a dominant laugh is produced by a high- or low-status person.
-
Low-status individuals in a position of power will still produce submissive laughs.
-
The submissive laughs of low- and high-status individuals are surprisingly similar.
-
High-status individuals can always be identified by their way of laughing.
Questions 32-36
Complete the summary using the list of words, A-H, below.
Write the correct letter, A-H, in boxes 32-36 on your answer sheet.
The benefits of humour
In one study at Australian National University, randomly chosen groups of participants were shown one of three videos, each designed to generate a different kind of 32………………….. . When all participants were then given a deliberately frustrating task to do, it was found that those who had watched the 33…………………….. video persisted with the task for longer and tried harder to accomplish the task than either of the other two groups.
A second study in which participants were asked to perform a particularly 34……………………… task produced similar results. According to researchers David Cheng and Lu Wang, these findings suggest that humour not only reduces 35…………………… and helps build social connections but it may also have a 36……………………. Effect on the body and mind.
-
laughter
-
relaxing
-
boring
-
anxiety
-
stimulating
-
emotion
-
enjoyment
-
amusing
Questions 37-40
Do the following statements agree with the information given in Reading Passage 3?
In boxes 37-40 on your answer sheet, write
TRUE if the statement agrees with the claims of the writer
FALSE if the statement contradicts the claims of the writer
NOT GIVEN if it is impossible to say what the writer thinks about this
37 Participants in the Santa Cruz study were more accurate at identifying the laughs of friends than those of strangers.
38 The researchers in the San Diego study were correct in their predictions regarding the behaviour of the high-status individuals.
39 The participants in the Australian National University study were given a fixed amount of time to complete the task focusing on employee profiles.
40 Cheng and Wang’s conclusions were in line with established notions regarding task performance.
4.2. Đáp án chi tiết Cambridge 15 Test 2 Passage 3
27. Đáp án: C
Vị trí thông tin: Đoạn A: “laughter and humour provide psychological scientists with rich resources for studying human psychology…”
Giải thích: Trong đoạn A, tác giả nhấn mạnh rằng tiếng cười và sự hài hước là nguồn tư liệu quan trọng cho nghiên cứu khoa học tâm lý, dùng để nghiên cứu từ ngôn ngữ đến thần kinh học.
→ Trọng tâm là giá trị của tiếng cười đối với nghiên cứu khoa học, không phải văn hóa hay ngôn ngữ riêng lẻ.
→ Đáp án đúng là C.
28. Đáp án: A
Vị trí thông tin: Đoạn B: “These were intended to help people at home feel like they were in a social situation, such as a crowded theatre.”
Giải thích: Charley Douglass tạo “laugh tracks” để giúp người xem ở nhà có cảm giác đang cười cùng người khác trong môi trường xã hội.
→ Điều này cho thấy ông hiểu tầm quan trọng của việc thưởng thức hài hước trong bối cảnh tập thể.
→ Không phải “bảo người xem khi nào nên cười”.
→ Đáp án đúng là A.
29. Đáp án: B
Vị trí thông tin: Đoạn C: “listeners from 24 diverse societies…” “the results were remarkably consistent…”
Giải thích: Nghiên cứu Santa Cruz đặc biệt ở chỗ người nghe đến từ rất nhiều nền văn hóa khác nhau nhưng kết quả lại rất giống nhau (đoán đúng khoảng 60%).
→ Điểm nổi bật là sự nhất quán xuyên văn hóa, không phải số ngành học hay số người tham gia.
→ Đáp án đúng là B.
30. Đáp án: B
Vị trí thông tin: Đoạn D: “each student took a turn at being teased by the others…”
Giải thích: Trong nghiên cứu ở San Diego, sinh viên luân phiên vai trò: lúc trêu chọc người khác, lúc bị trêu.
→ Đây chính là việc participants exchanged roles.
→ Không có ai không cười hay trở nên quá xúc động.
→ Đáp án đúng là B.
31. Đáp án: A
Vị trí thông tin: Đoạn E: “laughers producing dominant laughs were perceived to be significantly higher in status…”
Giải thích: Kết quả cho thấy tiếng cười áp đảo luôn khiến người nghe đánh giá người cười có địa vị cao, kể cả khi người đó thực tế có địa vị thấp.
→ Nghĩa là có thể nhận biết địa vị qua kiểu cười, không phụ thuộc hoàn toàn vào địa vị thật.
→ Các đáp án còn lại nói sai hoặc quá tuyệt đối.
→ Đáp án đúng là A.
32. Đáp án: emotion
Vị trí thông tin: Đoạn F: “watch a video clip eliciting either humour, contentment, or neutral feelings”
Giải thích: Ba video được thiết kế để tạo ra các loại cảm xúc khác nhau (hài hước, dễ chịu, trung tính).
→ Từ khái quát nhất phù hợp là emotion.
33. Đáp án: amusing
Vị trí thông tin: Đoạn F & G: “Some watched a clip of the BBC comedy Mr. Bean” “Students who had watched the Mr. Bean video ended up spending significantly more time…”
Giải thích: Video Mr. Bean là video hài hước (amusing). Nhóm xem video này kiên trì lâu hơn và cố gắng hơn so với hai nhóm còn lại.
34. Đáp án: boring
Vị trí thông tin: Đoạn H: “participants complete long multiplication questions by hand”
Giải thích: Giải các phép nhân dài bằng tay là một nhiệm vụ rất nhàm chán (boring).
→ Phù hợp với mô tả “particularly … task”.
35. Đáp án: anxiety
Vị trí thông tin: Đoạn I: “humour has been found to help relieve stress…”
Giải thích: “Relieve stress” tương đương với giảm căng thẳng / lo âu. Trong các lựa chọn, anxiety là từ phù hợp nhất về nghĩa.
36. Đáp án: stimulating
Vị trí thông tin: Đoạn I: “humour is not only enjoyable but more importantly, energising”
Giải thích: “Energising” = kích thích, tiếp năng lượng cho cơ thể và trí óc.
→ Từ tương đương trong danh sách là stimulating.
37. Đáp án: NOT GIVEN
Vị trí thông tin: Đoạn C: “Participants were asked whether they thought the people laughing were friends or strangers.” “people’s guesses were correct approximately 60% of the time.”
Giải thích: Bài đọc chỉ nói tỷ lệ đoán đúng chung là 60%, không so sánh việc đoán bạn bè chính xác hơn hay kém hơn người lạ.
→ Không đủ thông tin để kết luận.
→ NOT GIVEN.
38. Đáp án: TRUE
Vị trí thông tin: Đoạn D: “Analysis revealed that, as expected, high-status individuals produced more dominant laughs…”
Giải thích: Cụm “as expected” cho thấy kết quả đúng với dự đoán ban đầu của các nhà nghiên cứu về hành vi của người có địa vị cao.
→ Phát biểu phù hợp với nội dung bài.
→ TRUE.
39. Đáp án: FALSE
Vị trí thông tin: Đoạn G: “Participants were allowed to quit the task at any point.”
Giải thích: Câu hỏi nói rằng người tham gia được cho một khoảng thời gian cố định. Nhưng bài đọc nói rõ họ có thể dừng lại bất cứ lúc nào,
→ không có thời gian cố định.
→ Phát biểu trái với thông tin trong bài.
→ FALSE.
40. Đáp án: FALSE
Vị trí thông tin: Đoạn I: “the traditional view of task performance implies that individuals should avoid things such as humour…” “We suggest that humour is not only enjoyable but more importantly, energising.”
Giải thích: Quan điểm truyền thống cho rằng hài hước gây xao nhãng công việc,
trong khi Cheng và Wang đưa ra kết luận ngược lại: hài hước giúp tăng năng lượng và hiệu suất.
→ Kết luận của họ không phù hợp với quan điểm truyền thống.
→ FALSE.
>> Xem thêm:
-
Tổng hợp bài đọc IELTS Reading hay theo chủ đề thường gặp nhất
-
Đề thi IELTS Reading có đáp án mới nhất 2025-2026 [Cập nhật liên tục]
5. Khóa học IELTS online tại Langmaster
Khi luyện IELTS Reading, nhiều người học gặp chung một vấn đề: đọc thì hiểu, nhưng làm bài lại sai hoặc không kịp thời gian. Nguyên nhân không nằm ở việc bạn “chưa học đủ nhiều”, mà ở chỗ chưa được trang bị đúng chiến lược đọc – phân tích – xử lý paraphrase theo chuẩn IELTS.
Thực tế, không ít học viên học IELTS trong thời gian dài nhưng band điểm vẫn “giậm chân tại chỗ”. Họ chăm chỉ làm đề, ghi chép từ vựng, học mẹo rời rạc, nhưng thiếu một lộ trình rõ ràng gắn với mục tiêu band điểm cụ thể.
Với hơn 16 năm kinh nghiệm đào tạo tiếng Anh, Langmaster xây dựng khóa học IELTS online theo tư duy hệ thống, đi từ nền tảng đến nâng cao, bám sát từng mục tiêu band điểm cụ thể thay vì dạy chung một khung cho tất cả học viên.
-
Lớp học online sĩ số nhỏ: Mỗi lớp chỉ từ 7-10 học viên, đảm bảo thời lượng tương tác cao. Giáo viên theo sát tiến trình từng người, sửa lỗi chi tiết và điều chỉnh cách học phù hợp với năng lực cá nhân. Đây là điểm khác biệt lớn so với các lớp IELTS online đông người trên thị trường.
-
Lộ trình học cá nhân hóa theo trình độ và mục tiêu band điểm: Trước khi vào học, học viên được đánh giá đầu vào đầy đủ bốn kỹ năng. Từ đó, Langmaster xây dựng lộ trình phù hợp: từ củng cố nền tảng cho người mất gốc, đến luyện kỹ năng làm bài cho mục tiêu IELTS.
-
Giáo viên chuẩn quốc tế, chấm chữa kỹ lưỡng: Đội ngũ giáo viên có nền tảng tiếng Anh vững (IELTS 7.5 trở lên), giàu kinh nghiệm giảng dạy và luyện thi. Bài tập được chấm chữa chi tiết trong 24h, chỉ rõ lỗi sai, nguyên nhân và cách cải thiện cụ thể, không nhận xét chung chung.
-
Luyện đề và thi thử định kỳ theo format thật: Học viên thường xuyên được luyện đề và tham gia các bài thi thử sát đề thi IELTS, giúp học viên làm quen với áp lực thời gian; Nắm rõ chiến lược làm bài và nhận diện điểm mạnh – điểm yếu để điều chỉnh lộ trình kịp thời. Nhờ đó, học viên không còn bị “ngợp đề” khi bước vào phòng thi thật.
-
Coaching 1-1 cùng chuyên gia: Phù hợp với học viên cần bứt band trong thời gian ngắn, hoặc gặp khó khăn ở một kỹ năng cụ thể. Giáo viên tập trung xử lý đúng “điểm nghẽn” cá nhân.
-
Học online nhưng không học một mình: Dù học online, học viên vẫn được tương tác trực tiếp với giáo viên, luyện nói thường xuyên, nhận phản hồi liên tục và sử dụng hệ sinh thái học tập hỗ trợ đầy đủ, giúp duy trì động lực và tiến độ học tập.
Trên đây là toàn bộ phần giải chi tiết Cambridge 15 test 2 Reading, bao gồm đáp án và giải thích rõ ràng cho từng dạng câu hỏi. Hy vọng phần phân tích này giúp bạn hiểu cách xác định keyword, dò đoạn chính xác và tránh các bẫy thường gặp, từ đó nâng cao hiệu quả làm bài IELTS Reading.
Nội Dung Hot
KHÓA TIẾNG ANH GIAO TIẾP 1 KÈM 1
- Học và trao đổi trực tiếp 1 thầy 1 trò.
- Giao tiếp liên tục, sửa lỗi kịp thời, bù đắp lỗ hổng ngay lập tức.
- Lộ trình học được thiết kế riêng cho từng học viên.
- Dựa trên mục tiêu, đặc thù từng ngành việc của học viên.
- Học mọi lúc mọi nơi, thời gian linh hoạt.

KHÓA HỌC IELTS ONLINE
- Sĩ số lớp nhỏ (7-10 học viên), đảm bảo học viên được quan tâm đồng đều, sát sao.
- Giáo viên 7.5+ IELTS, chấm chữa bài trong vòng 24h.
- Lộ trình cá nhân hóa, coaching 1-1 cùng chuyên gia.
- Thi thử chuẩn thi thật, phân tích điểm mạnh - yếu rõ ràng.
- Cam kết đầu ra, học lại miễn phí.

KHÓA TIẾNG ANH TRẺ EM
- Giáo trình Cambridge kết hợp với Sách giáo khoa của Bộ GD&ĐT hiện hành
- 100% giáo viên đạt chứng chỉ quốc tế IELTS 7.0+/TOEIC 900+
- X3 hiệu quả với các Phương pháp giảng dạy hiện đại
- Lộ trình học cá nhân hóa, con được quan tâm sát sao và phát triển toàn diện 4 kỹ năng
Bài viết khác
Violins and Very Cold Weather – A Hypothesis IELTS Reading Answers: Tổng hợp đề bài, đáp án chi tiết, giải thích từng câu và từ vựng quan trọng giúp bạn luyện IELTS Reading hiệu quả.
Bài viết tổng hợp chi tiết đề thi IELTS Reading I Contain Multitudes, đáp án kèm giải thích chi tiết, từ vựng cần lưu ý khi làm bài giúp bạn luyện thi hiệu quả và nâng cao band điểm.
Bài viết tổng hợp chi tiết đề thi IELTS Reading I Contain Multitudes, đáp án kèm giải thích chi tiết, từ vựng cần lưu ý khi làm bài giúp bạn luyện thi hiệu quả và nâng cao band điểm.
Giải đề Stadiums past present and future IELTS Reading Cam 17 Test 1 chi tiết, phân tích đáp án, từ vựng học thuật và chiến lược làm bài hiệu quả.
Giải đề IELTS Reading “The Evolutionary Mystery: Crocodile Survives” đáp án chi tiết và danh sách từ vựng giúp bạn luyện thi hiệu quả và nâng cao band điểm.



